Triết lý giáo dục nào của Việt Nam có thể tạo nên người công dân đó?

Theo Giáo sư Neubauer, Chủ tịch Hiệp hội quốc tế Nghiên cứu Trí thông minh, thì trí thông minh của con người chỉ bắt đầu phát triển từ tuổi 15 và phụ thuộc rất lớn vào thời gian, cũng như chất lượng được giáo dục tại trường học. Nói một cách khác, giáo dục quyết định chất lượng các thế hệ tương lai của một dân tộc. Nếu loài người sẽ có một mái nhà chung trái đất, thì cuộc cạnh tranh quyết định nhất, lớn nhất, chính là cạnh tranh giữa các dân tộc để trường tồn, phát triển và được tôn trọng một cách bình đẳng trong mái nhà chung đó. Ngay từ bây giờ, ở các nước phát triển, giáo dục không chỉ là cơ sở, là nghĩa vụ làm nên tính chính danh và sự tồn tại của nhà nước, của chính quyền, mà còn là điều kiện thiết yếu bảo đảm sự sống còn của dân tộc, là động lực và công cụ cạnh tranh trong cuộc cạnh tranh cùng chung sống ấy.

Do vẫn loay hoay kiếm tìm triết lý giáo dục, giáo dục Việt Nam cũng không thể đạt kết quả như trông đợi. Mục đích của sự học là qui định nội dung giáo dục. Cùng với hội nhập quốc tế, nhiều quan niệm khác nhau về mục đích sự học, của giáo dục, đều tồn tại ở Việt Nam. Điều này, một mặt, làm cho việc xác định nội dung những chương trình giáo dục cơ bản có tính chất bắt buộc, phổ cập và mang tính định hướng lâu dài trở nên hết sức khó khăn, nếu không muốn nói là không thể được; mặt khác, nó cũng cản trở xây dựng những bộ tiêu chuẩn, tiêu chí đáng tin cậy để đánh giá các chương trình giáo dục do các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh giáo dục nước ngoài đưa vào Việt Nam. Các chương trình giáo dục lạc hậu, kém chất lượng, không còn khai thác được ở nước ngoài sẽ được họ ồ ạt đưa vào thị trường Việt Nam. Bởi chỉ cần khác với chương trình của Việt Nam, chắc chắn chúng sẽ tìm được học sinh.

Vì vậy, dù số lượng các chương trình, trường học quốc tế sẽ tiếp tục tăng nhanh, học phí tăng, nhưng chất lượng học sinh, sinh viên Việt Nam sẽ không tăng. Một số rất ít sinh viên tốt nghiệp đại học, may mắn làm việc cho các công ty nước ngoài, được đào tạo lại sẽ nhanh chóng hội nhập về mặt chuyên môn với đồng nghiệp nước ngoài. Nhưng họ sẽ vấp phải khó khăn khi muốn được tôn trọng một cách bình đẳng, do thiếu hẳn sự hiểu biết và thói quen ứng xử trên cơ sở những giá trị đạo đức, đạo lý phổ quát như của các đồng nghiệp nước ngoài. Và đây mới là vấn nạn nghiêm trọng nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Những con người (cá nhân) gắn kết, tương tác với nhau do cùng chung một ngôn ngữ, chung một hệ giá trị, chung niềm tin, và chung một truyền thống làm nên xã hội của dân tộc, của quốc gia. Không còn những thành tố ấy, xã hội cũng biến mất. Do nhiều nguyên nhân, nhưng đặc biệt là do giáo dục, tiếng Việt ngày nay không chỉ không còn trong sáng như trước, mà còn mất dần khả năng diễn đạt chính xác tư duy, suy nghĩ của người Việt. Số thanh niên, sinh viên giỏi hai ngoại ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh ngày càng tăng mạnh. Nhưng điều nguy hiểm ở đây là: bảo vệ, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong hội nhập quốc tế, chưa bao giờ là vấn đề trọng tâm của nhà nước, của ngành giáo dục và của xã hội.

Thật khó khăn khi xác định những giá trị làm nên xã hội Việt Nam đương đại. Một số giá trị đạo đức, đạo lý, có tính phổ quát của xã hội loài người mang truyền thống dân tộc Việt Nam đã biến mất. Một số chỉ còn là những lời rao giảng cho phải đạo; số còn lại được hiểu theo nghĩa hoàn toàn ngược lại. Điều đáng lo ngại nhất là đạo lý. Đạo lý cho phép mỗi cá nhân lý lẽ và phương pháp lựa chọn một hành vi đúng đắn nhất để đáp ứng chuẩn mực đạo đức cho trường hợp có nhiều hành vi để lựa chọn. Người Việt đang có xu thế xem cái “Tôi” là đạo lý duy nhất, tối thượng. Không được học để làm người, học để chung sống, thế hệ trẻ Việt Nam rất khó hội nhập với bạn bè, đồng nghiệp nước ngoài là chuyện đương nhiên.

Cái “Tôi”, về cơ bản được hình thành từ ba nguồn: (1) Giá trị truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình, từ xã hội; (2) Tri thức, kiến thức, nhân sinh quan từ nhà trường; (3) Kinh nghiệm từ va chạm với thực tiễn. Giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp còn được trân quí lưu giữ trong một số ít gia đình hiện nay, vừa không còn là chuẩn mực cho đạo lý trong trường học, vừa phải đương đầu với thực tế đạo lý theo chuẩn mực ngược lại, đã mất hẳn vai trò mình vốn phải có. Các nguyên tắc lựa chọn tri thức, kiến thức và phương pháp truyền đạt trong nhà trường Việt Nam đều bắt nguồn từ Liên Xô và hầu như không thay đổi. Chúng mâu thuẫn với những gì học sinh, sinh viên biết được từ Internet, từ các chương trình giáo dục quốc tế. Vì vậy, mất phương hướng, nếu không muốn nói là hoang mang, về kiến thức, về tương lai, sẽ trở thành hiện tượng phổ biến trong học sinh, sinh viên Việt Nam.

Giới trẻ Việt Nam cũng sẽ rất khó khăn, khi muốn tìm kiếm một mẫu mực đúng đắn nào đó trong xã hội, để noi theo mà định hình cái “Tôi” của mình. Ngày càng nhiều kẻ tham nhũng, không chỉ vô trách nhiệm, mà còn chủ đích lợi dụng vị trí trong chính quyền của mình để lấy tiền của dân, nhưng lại hùng hồn xin nhận trách nhiệm thay cho cấp dưới, giống hệt một “chính nhân quân tử”. Thói đạo đức giả đang lên ngôi và ngày càng lan rộng, không chỉ khiến giới trẻ hoang mang không biết đâu là thật là giả, mà đang và sẽ còn huỷ hoại nhanh hơn nữa sự tin cậy lẫn nhau – một trong những thành tố quan trọng nhất làm nên xã hội.

Nhìn lại, thấy xa hơn – TS. Nguyễn Vân Nam

Một cái “Tôi” không đủ kiến thức để biết chọn lọc thông tin nào đáng tin cậy, không biết cách tư duy và phương pháp xử lý hiệu quả thông tin, không biết cần tiếp thu những thông tin thật sự cần thiết nào cho tương lai của chính mình; và với một tâm thức hoang mang mất phương hướng, mất lòng tin, tất nhiên sẽ đẩy giới trẻ đắm mình vào không gian số (thế giới số) để xây dựng một cái “Tôi” ảo. Tự bản chất, cái “Tôi” ảo trong thế giới số là một cái tôi đơn độc tuyệt đối. Đó là một cái “Tôi” tự định giá trị theo số lượng “Like” – thứ số lượng rất dễ bị thao túng, bị làm giả; một cái “Tôi” được vây quanh và tạo ra bởi các mối quan hệ “Tôi thấy thích”; cuộc sống của cái “Tôi” ấy không hướng đến các giá trị cần hoặc nên trở thành, mà chỉ đến các giá trị “Tôi thấy Thích”; cái “Tôi” đó ứng xử theo qui tắc “Không – Thích – Thì – Hủy”, bất kể là ai, là cái gì, chỉ cần tôi không thích thì đều click xoá bỏ. Có lẽ, chính vì quá quen thuộc với qui tắc “Không – Thích – Thì – Hủy” của cuộc sống trong thế giới số, mà người ta dễ dàng giết (hủy) người khác chỉ vì những va chạm nhỏ nhặt, hay không hài lòng ở cuộc đời thực. Giáo dục ở Việt Nam đang là một ngành kinh doanh. Nhưng sản phẩm của nó không góp phần hình thành những con người tự do, chân chính với cái “Tôi” biết cùng chung sống với những người khác.

Trích: Nhìn lại thấy xa hơn – TS. Nguyễn Vân Nam

Bình luận